Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng

Mã sản phẩm:
17
Giá bán:
Liên hệ
  •  

    Danh mục

    Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng

    Dạng bào chế

    Dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền

    Quy cách

    Hộp 1 lọ 40 mg/2 ml. Hộp 1 lọ 100 mg/5 ml. Hộp 1 lọ 300 mg/15 ml. Hộp 1 lọ 500 mg/25 ml.

    Đường dùng

    Tiêm truyền tĩnh mạch

    Thành phần

     Irinotecan hydrochloride trihydrate 20mg/ 1ml

    Tuổi thọ thuốc

    24 tháng từ ngày sx.

    Nhà sản xuất

    Công ty TNHH Sinh dược phẩm Hera

    Xuất xứ thương hiệu

    Việt Nam

    Thuốc cần kê toa

     

Mô tả "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

CHỈ ĐỊNH
Irinotecan được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển:

  • Phối hợp với 5-fluorouracil và acid folinic ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển chưa hóa trị liệu trước đó.
  • Như một liệu pháp đơn trị liệu cho bệnh nhân đã thất bại với phác đồ điều trị chứa 5-fluorouracil đã thiết lập.

Phối hợp irinotecan với cetuximab được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư đại trực tràng di căn với gen KRAS không bị đột biến, có biểu hiện của thụ thể yếu tố tăng sinh biểu bì (EGFR) chưa được điều trị di căn trước đó hoặc sau khi thất bại với liệu pháp gây độc tế bào có chứa irinotecan.
Phối hợp irinotecan với 5-fluorouracil, acid folinic và bevacizumab là chỉ định đầu tay để điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô di căn của đại tràng hoặc trực tràng.
Phối hợp irinotecan với capecitabine, có hoặc không có bevacizumab là chỉ định đầu tay để điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng di căn.

Chống chỉ định

  • Bệnh viêm ruột mạn tính và/hoặc tắc ruột.
  • Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc.
  • Cho con bú.
  • Bilirubin > 3 lần ULN.
  • Suy tủy xương nặng.
  • Chỉ số toàn trạng theo WHO > 2.
  • Sử dụng đồng thời với St John's Wort.
  • Vắc xin sống giảm độc lực.
Thành phần "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

Irinotecan hydrochloride trihydrate 20mg/ 1ml

Công dụng "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển:

  • Phối hợp với 5-fluorouracil và acid folinic ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển chưa hóa trị liệu trước đó.
  • Như một liệu pháp đơn trị liệu cho bệnh nhân đã thất bại với phác đồ điều trị chứa 5-fluorouracil đã thiết lập.

Phối hợp irinotecan với cetuximab được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư đại trực tràng di căn với gen KRAS không bị đột biến, có biểu hiện của thụ thể yếu tố tăng sinh biểu bì (EGFR) chưa được điều trị di căn trước đó hoặc sau khi thất bại với liệu pháp gây độc tế bào có chứa irinotecan.
Phối hợp irinotecan với 5-fluorouracil, acid folinic và bevacizumab là chỉ định đầu tay để điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô di căn của đại tràng hoặc trực tràng.
Phối hợp irinotecan với capecitabine, có hoặc không có bevacizumab là chỉ định đầu tay để điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng di căn.

Liều dùng "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

Liều dùng: 
Chỉ dùng cho người lớn. Dung dịch tiêm truyền irinotecan nên được truyền vào tĩnh mạch ngoại biên hoặc trung tâm.
Liều dùng khuyến cáo:
Trong đơn trị liệu (đối với bệnh nhân đã được điều trị trước đó):
Liều khuyến cáo là 350 mg/m2 dùng qua đường tiêm truyền tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 30 – 90 phút, ba tuần một lần.
Cách dùng:
Các biện pháp phòng ngừa cần thực hiện trước khi xử lý hoặc sử dụng thuốc:
Cũng như các thuốc chống ung thư khác, irinotecan phải được chuẩn bị và sử dụng một cách thận trọng. Bắt buộc phải sử dụng kính, khẩu trang và găng tay.
Nếu dung dịch irinotecan hoặc dung dịch tiêm truyền tiếp xúc với da, phải rửa ngay và kỹ bằng xà phòng và nước. Nếu dung dịch irinotecan hoặc dung dịch tiêm truyền tiếp xúc với niêm mạc, phải rửa ngay bằng nước.
Pha dung dịch tiêm truyền:
Kiểm tra dung dịch trong lọ để phát hiện các tiểu phân, sự đổi màu của dung dịch và kiểm tra lại khi rút dung dịch thuốc từ lọ vào ống tiêm.
Sản phẩm này chỉ được sử dụng cho 1 liều duy nhất và phải loại bỏ phần không được sử dụng.
Phải pha loãng dung dịch irinotecan trước khi truyền bằng kỹ thuật vô trùng. Nên pha loãng dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền irinotecan hydrochloride trong dung dịch dextrose 5% hoặc dung dịch natri clorid 0,9% đến nồng độ cuối cùng trong khoảng 0,12 mg/ml đến 2,8 mg/ml. Không nên thêm các loại thuốc khác vào dung dịch tiêm truyền.CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC

Nên sử dụng ở các đơn vị chuyên về hóa trị liệu gây độc tế bào và chỉ nên
Cùng diện sự giám sát của bác sĩ có đủ năng lực trong việc sử dụng hóa trị liệu chống ung
thư
Ở những bệnh nhân có yếu tố rủi ro, đặc biệt là những người có chỉ số toàn trạng theo
WHO-2.
Trong một số ít trường hợp, bệnh nhân được xem là không có khả năng tuân thủ các
khuyến cáo liên quan đến kiểm soát các tác dụng không mong muốn (cần điều trị tiêu
chảy ngay lập tức và kéo dài kết hợp với uống nhiều nước khi bắt đầu tiêu chảy xuất
hiện muộn). Khuyến cáo giám sát chặt chẽ tại bệnh viện cho những bệnh nhân này.
Khi sử dụng irinotecan đơn trị liệu, thường kê đơn với liệu trình dùng thuốc 3 tuần một lần.
Tuy nhiên, có thể xem xét liệu trình dùng thuốc hằng tuần ở những bệnh nhân cần theo dõi
chặt chẽ hơn hoặc những người có nguy cơ đặc biệt bị giảm bạch cầu trung tính nặng.
Tiêu chảy xuất hiện muộn:
Bệnh nhân cần được biết về nguy cơ tiêu chảy xuất hiện muộn xảy ra hơn 24 giờ sau khi
dùng irinotecan và bất kỳ thời điểm nào trước chu kỳ tiếp theo. Trong đơn trị liệu, thời
gian trung bình bắt đầu đi ngoài phân lỏng lần đầu tiên là vào ngày thứ 5 sau khi truyền
irinotecan. Bệnh nhân phải nhanh chóng thông báo cho bác sĩ về sự xuất hiện của triệu
chứng này và bắt đầu điều trị thích hợp ngay lập tức.
Những bệnh nhân có nguy cơ bị tiêu chày tăng là những người đã từng xạ trị vùng
bụng/chậu trước đó, những người bị tăng bạch cầu ban đầu, những người có chỉ số toàn
trạng lớn hơn hoặc bằng 2 và phụ nữ. Nếu không được điều trị đúng cách, tiêu chảy có thể đe dọa tính
mạng, đặc biệt nếu bệnh nhân đồng thời bị giảm bạch cầu trung tính.
Ngay khi đi ngoài phân lỏng lần đầu tiên, bệnh nhân nên bắt đầu uống một lượng lớn đồ
uống có chứa chất điện giải và phải bắt đầu điều trị tiêu chảy thích hợp ngay lập tức. Biện
pháp điều trị tiêu chảy sẽ được chỉ định bởi khoa phòng đã cho dùng irinotecan. Sau khi
xuất viện, bệnh nhân nên mua các thuốc được kê đơn để có thể điều trị ngay khi xuất hiện
tiêu chảy. Ngoài ra, họ phải thông báo cho bác sĩ hoặc khoa phòng cho dùng irinotecan nếu
xảy ra tiêu chảy.
Biện pháp điều trị chống tiêu chảy được khuyến cáo hiện nay là sử dụng loperamide liều
cao (4 mg cho lần uống đầu tiên và sau đó 2 mg mỗi 2 giờ). Nên tiếp tục liệu pháp này
trong 12 giờ sau lần đi phân lỏng cuối cùng và không nên điều chỉnh. Trong mọi trường
hợp không được dùng loperamide liên tục hơn 48 giờ ở liều này vì nguy cơ liệt ruột, và
cũng không được dùng dưới 12 giờ.Ngoài điều trị tiêu chảy, nên dùng kháng sinh phổ rộng dự phòng khi tiêu chảy có liên
quan đến giảm bạch cầu trung tính nặng (số lượng bạch cầu trung tính < 500 tế bào/mm²).
điều trị bằng kháng sinh, nên nhập viên đề kiểm soát tình trạng tiêu chảy, trong các
sau:
- Tiêu chảy kèm theo sốt,
Tiêu chảy nặng (cần truyền nước tĩnh mạch),
Tiêu chảy kéo dài hơn 48 giờ sau khi bắt đầu điều trị bằng loperamide liều cao.
Không nên dùng loperamide để dự phòng, ngay cả ở những bệnh nhân bị tiêu chảy muộn
trong các chu kỳ trước đó.
Ở những bệnh nhân bị tiêu chảy nặng, nên giảm liều cho các chu kỳ tiếp theo.

Huyết học:
Trong các nghiên cứu lâm sàng, tần suất giảm bạch cầu trung tính độ 3 và 4 theo NCI CTC
cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân đã được xạ trị vùng bụng/chậu trước đó so với những
người không được xạ trị. Bệnh nhân có nồng độ bilirubin toàn phần trong huyết thanh ban
đầu từ 1,0 mg/dL trở lên cũng có khả năng bị giảm bạch cầu trung tính độ 3 hoặc 4 trong
chu kỳ đầu tiên cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân có nồng độ bilirubin thấp hơn 1,0 mg/dL.
Khuyến cáo theo dõi công thức máu toàn phần hằng tuần trong quá trình điều trị bằng
irinotecan. Bệnh nhân phải được biết về nguy cơ giảm bạch cầu trung tính và ý nghĩa của
sốt. Giảm bạch cầu trung tính có sốt (nhiệt độ > 38°C và số lượng bạch cầu trung tính ≤
1.000 tế bào/mm³) nên được điều trị khẩn cấp tại bệnh viện bằng kháng sinh phổ rộng qua
đường tiêm tĩnh mạch.
Ở những bệnh nhân có các phản ứng huyết học nghiêm trọng, nên giảm liều cho lần dùng
tiếp theo.
Tăng nguy cơ nhiễm trùng và nhiễm độc huyết ở những bệnh nhân bị tiêu chảy nặng. Nên
thực hiện công thức máu toàn phần cho những bệnh nhân này.
Bệnh nhân có UGTIAI bị giảm hoạt tính:
Bệnh nhân chuyển hóa kém UGT1AI, như bệnh nhân mắc hội chứng Gilbert (ví dụ: đồng
hợp tử của các biến thể UGT1A1*28 hoặc *6) có nguy cơ cao bị giảm bạch cầu trung tính
và tiêu chảy nặng sau khi điều trị bằng irinotecan. Nguy cơ này tăng theo mức liều
irinotecan.
Mặc dù chưa xác định liều giảm chính xác cho liều khởi đầu, nên cân nhắc giảm liều khởi
đầu của irinotecan ở những bệnh nhân chuyển hóa kém UGT1A1, đặc biệt là bệnh nhân
dùng liều > 180 mg/m² hoặc bệnh nhân yếu. Cần xem xét các hướng dẫn lâm sàng áp dụng
cho các khuyến cáo về liều dùng ở nhóm bệnh nhân này. Có thể tăng những liều tiếp theo
dựa trên khả năng dung nạp thuốc của từng bệnh nhân.
Có thể sử dụng kiểu gen UGTIA1 để xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao bị giảm
bạch cầu trung tỉnh và tiêu chảy nặng, tuy nhiên, tính hữu ích trên lâm sàng của kiểu gen
trước khi điều trị là không chắc chắn, vì tính đa hình của UGT1A1 không tính đến tất cả
các độc tính quan sát được từ liệu pháp irinotecan.
Suy giảm chức năng gan:
Nên thực hiện các xét nghiệm chức năng gan lúc ban đầu và trước mỗi chu kỳ.Nên tiến hành theo dõi công thức máu toàn phần bằng tuần ở những bệnh nhân có lượng
bilirubin từ 1,5 đến 3 lần ULN, do giảm độ thanh thải của irinotecan và do đó làm tăng
nguy cơ nhiễm độc huyết ở nhóm bệnh nhân này. Đối với bệnh nhân có bilirubin > 3 lần
thì nên thận trọng chống chỉ định.
Buồn nôn và nôn:
- Nên điều trị dự phòng bằng thuốc chống nôn trước mỗi lần điều trị bằng irinotecan. Buồn
nôn và nôn đã được báo cáo thường xuyên. Bệnh nhân nôn kèm theo tiêu chảy xuất hiện
muộn nên nhập viện càng sớm càng tốt để điều trị.
Hội chứng cholinergic cấp tỉnh:
Nếu xảy ra hội chứng cholinergic cấp tỉnh (xác định gồm tiêu chảy xuất hiện sớm, nhiều
dấu hiệu và triệu chứng khác như đổ mồ hôi, đau quặn bụng, co đồng tử và tiết nước bọt),
nên dùng atropine sulfate (0,25 mg tiêm dưới da) trừ khi có chống chỉ định lâm sàng.
Có thể quan sát thấy các triệu chứng này trong hoặc ngay sau khi truyền irinotecan, các
triệu chứng này được cho là có liên quan đến hoạt tính kháng cholinesterase của hợp chất
gốc irinotecan và dự kiến sẽ xảy ra thường xuyên hơn với liều irinotecan cao hơn.
Cần thận trọng ở những bệnh nhân bị hen suyễn. Ở những bệnh nhân đã bị hội chứng
cholinergic cấp tỉnh và nghiêm trọng, nên sử dụng atropine sulfate dự phòng cho các liều
irinotecan tiếp theo.
Rối loạn hô hấp:
Bệnh phổi kẽ biểu hiện dưới dạng thâm nhiễm phổi không phổ biến trong khi điều trị bằng
irinotecan. Bệnh phổi kẽ có thể gây tử vong. Các yếu tố nguy cơ có thể liên quan đến sự
tiến triển của bệnh phổi kẽ bao gồm sử dụng các thuốc gây độc cho phối, xạ trị và các yếu
tố kích thích khuẩn lạc. Bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ nên được theo dõi chặt chẽ
các triệu chứng hô hấp trước và trong khi điều trị bằng irinotecan.
Thoát mạch:
Mặc dù irinotecan không phải là chất gây rộp da, nhưng cần cẩn thận để tránh thoát mạch
và nên theo dõi vị trí tiêm truyền để phát hiện các dấu hiệu viêm. Nếu xảy ra thoát mạch,
nên rửa sạch vị trí tiêm truyền và chườm đá.
Người cao tuổi:
Do tần suất suy giảm chức năng sinh học cao hơn ở người cao tuổi, đặc biệt là chức năng
gan, nên thận trọng khi lựa chọn liều irinotecan cho nhóm đối tượng này.
Bệnh viêm ruột mạn tính và/hoặc tắc ruột:
Bệnh nhân không được dùng irinotecan cho đến khi giải quyết được tình trạng tắc ruột.
Chức năng thận:
Đã ghi nhận tăng creatinin huyết thanh hoặc nitơ urê máu. Đã có trường hợp suy thận cấp.
Những trường hợp này thường được cho là các biến chứng của nhiễm trùng hoặc mất nước
liên quan đến buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy. Các trường hợp hiếm gặp về rối loạn chức
năng thận do hội chứng ly giải khối u cũng đã được báo cáo.
Xạ trị:
Những bệnh nhân trước đây đã được xạ trị vùng bụng/chậu có nguy cơ cao bị suy tủy
xương sau khi dùng irinotecan. Các bác sĩ nên thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân
đã được xạ trị nhiều trước đó (ví dụ > 25% tủy xương được chiếu xạ và trong vòng 6 tuần trước khi bắt đầu điều trị bằng irinotecan). Có thể áp dụng điều chỉnh liều lượng cho nhóm
đối tượng này.
Rối loạn tim:
Đã ghi nhận thấy các trường hợp thiếu máu cục bộ cơ tim sau khi điều trị chủ yếu bằng
irinotecan ở những bệnh nhân mắc bệnh tim tiềm ẩn, các yếu tố nguy cơ đã biết khác đối
với bệnh tim hoặc hóa trị liệu gây độc tế bào trước đó.
Ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đã biết nên được theo dõi chặt chẽ và cần có biện
pháp để cố gắng giảm thiểu tất cả các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được (như hút
thuốc, tăng huyết áp và tăng lipid máu).
Rối loạn mạch máu:
Irinotecan hiếm khi liên quan đến các trường hợp thuyên tắc do huyết khối (thuyên tắc
phổi, huyết khối tĩnh mạch và huyết khối động mạch) ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố
nguy cơ ngoài khối u tiềm ẩn.
Khác:
Nên tránh phối hợp irinotecan với chất ức chế mạnh (như ketoconazole) hoặc chất gây cảm
ứng mạnh (như rifampicin, carbamazepine, phenobarbital, phenytoin, apalutamide) của
CYP3A4 vì có thể làm thay đổi quá trình chuyển hóa irinotecan.
Không thường gặp các trường hợp suy giảm chức năng thận, hạ huyết áp hoặc suy tuần
hoàn ở những bệnh nhân có các giai đoạn mất nước liên quan đến tiêu chảy và/hoặc nôn
hay nhiễm trùng huyết.
Tránh thai ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản/nam giới:
Do khả năng gây độc tính gen, khuyên bệnh nhân nữ có khả năng sinh sản nên sử dụng
biện pháp tránh thai hiệu quả cao trong quá trình điều trị và trong 6 tháng sau liều
irinotecan cuối cùng.
Do khả năng gây độc tỉnh gen, khuyên bệnh nhân nam và bạn tình nữ có khả năng sinh sản
sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị và trong 3 tháng sau liều
irinotecan cuối cùng.
Cho con bú:
Do khả năng xảy ra tác dụng không mong muốn ở trẻ bú mẹ, nên ngừng cho con bú trong
thời gian điều trị bằng irinotecan.
Tá dược
Thuốc này có chứa sorbitol. Sorbitol là một nguồn fructose. Nếu bệnh nhân mắc chứng
không dung nạp fructose di truyền (HFI) – một rối loạn di truyền hiếm gặp, bệnh nhân
không được dùng thuốc này. Bệnh nhân mắc HFI không thể phân hủy fructose, có thể gây
ra tác dụng không mong muốn nghiêm trọng.
Bệnh nhân phải nói cho bác sĩ trước khi sử dụng thuốc này nếu mắc HFI hoặc nếu bệnh
nhân không còn có thể dùng đồ ăn hoặc đồ uống ngọt nữa vì cảm thấy buồn nôn, nôn hoặc
gặp các tình trạng khó chịu như đầy hơi, co thắt dạ dày hoặc tiêu chảy.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Tránh thai:Do khả năng gây độc tính gen, khuyên bệnh nhân nữ có khả năng sinh sản nên sử dụng
biện pháp tránh thai hiệu quả cao trong quá trình điều trị và trong 6 tháng sau liều
irinotecan cuối cùng.
Do khả năng gây độc tỉnh gen, khuyên bệnh nhân nam và bạn tỉnh nữ có khả năng sinh sản
sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị và trong 3 tháng sau liều
notecaoachôi cùng.
Số dữ liệu hơn chế về sử dụng irinotecan ở phụ nữ mang thai. Đã chứng minh irinotecan
1 gây độc kho phôi thai và gây quái thai ở động vật. Do đó, dựa trên kết quả từ các nghiên
su trên đất vật và cơ chế tác dụng của irinotecan, không nên sử dung irinotecan trong
thời kỳ mang thai trừ khi thật cần thiết.
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không nên bắt đầu dùng irinotecan cho đến khi loại trừ khả
năng mang thai. Nên tránh mang thai nếu một trong hai người nam hoặc nữ đang dùng
irinotecan.
Cho con bú:
Dữ liệu hiện có còn hạn chế nhưng cho thấy irinotecan và chất chuyển hóa của nó được bài
tiết qua sữa mẹ. Do đó, vì khả năng xảy ra các tác dụng không mong muốn ở trẻ bú mẹ,
nên ngừng cho con bú trong thời gian điều trị bằng irinotecan.
Khả năng sinh sản:
Không có dữ liệu trên người về ảnh hưởng của irinotecan đối với khả năng sinh sản. Ở
động vật, đã ghi nhận tác dụng không mong muốn của irinotecan đối với khả năng sinh sản
của con cái. Trước khi bắt đầu dùng irinotecan, cân nhắc tư vấn cho bệnh nhân về việc lưu
trữ giao tử.
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC
Irinotecan có ảnh hưởng vừa phải đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Nên cảnh báo
bệnh nhân về khả năng bị chóng mặt hoặc rối loạn thị giác có thể xảy ra trong vòng 24 giờ
sau khi dùng irinotecan và khuyên bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc
nếu những triệu chứng này xảy ra.

Tác dụng phụ "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
 Các nghiên cứu lâm sàng:
Các tác dụng không mong muốn đã được thu thập rộng rãi từ các nghiên cứu về
ung thư đạo ực tràng di căn, tần suất được trình bày dưới đây. Các tác dụng không mong
Khuôn đối với các chỉ định khác được cho là tương tự như đối với ung thư đại trực tràng.
Các tác dụng không mong muốn có giới hạn liều thường gặp nhất (≥ 1/10) của irinotecan
là tiêu chảy xuất hiện muộn (xảy ra hơn 24 giờ sau khi dùng) và rối loạn máu bao gồm
giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu và giảm tiểu cầu.
Giảm bạch cầu trung tính là một tác dụng độc giới hạn liều. Giảm bạch cầu trung tính có
thể hồi phục và không tích lũy, số ngày trung bình cho đến thời điểm giảm bạch cầu
nghiêm trọng nhất là 8 ngày bất kể dùng liệu pháp đơn trị liệu hay liệu pháp phối hợp.
Hội chứng cholinergic cấp tỉnh thoáng qua nghiêm trọng đã được ghi nhận rất thường
gặp.
Các triệu chứng chính được xác định là tiêu chảy xuất hiện sớm, nhiều triệu chứng khác
như đau bụng, đổ mồ hôi, co đồng tử và tăng tiết nước bọt xảy ra trong khi truyền
irinotecan hoặc trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi truyền irinotecan. Những triệu chứng
này biến mất sau khi dùng atropine.
Đơn trị liệu:
Các tác dụng không mong muốn sau đây được xem là có thể hoặc có khả năng liên quan
đến sử dụng irinotecan đã được báo cáo từ 765 bệnh nhân ở liều khuyến cáo 350 mg/m²
trong đơn trị liệu. Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được trình
bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Tần suất được xác định là: Rất thường
gặp (ADR≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1000 ≤ ADR < 1/100),
hiếm gặp (1/10000 ≤ ADR <1/1000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10 000).
Các tác dụng không mong muốn được báo cáo với irinotecan trong đơn trị liệu (350
mg/m² ba tuần một lần)
Rất thường gặp (ADR≥ 1/10)
Máu và hệ bạch huyết: Giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm cảm giác thèm ăn.
Hệ thần kinh: Hội chứng cholinergic.
Tiêu hóa: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đau bụng.
Da và mô dưới da: Rụng tóc (có thể hồi phục).
Toàn thân và tại chỗ: Viêm niêm mạc, sốt, suy nhược,
Thường gặp (1/100≤ADR <1/10)
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng: Nhiễm trùng.
Máu và hệ bạch huyết: Giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính có sốt.Tiêu hóa: Táo bón.
Xét nghiệm: Tăng creatinin máu, tăng transaminase (ALT và AST), tăng bilirubin máu,
tăng phosphatase kiểm máu.
Mô tả các tác dụng không mong muốn chọn lọc (đơn trị liệu):
Buồn nậu và nôn nặng ở khoảng 10% bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chống nôn.
Giảm bạch cầu trung tính được thấy ở 78,7% bệnh nhân và nặng (số lượng bạch cầu trung
tính < 500 tế bào/mm²) ở 22,6% bệnh nhân. Trong số các chu kỳ có thể đánh giá được,
18% có số lượng bạch cầu trung tính dưới 1.000 tế bào/mm² bao gồm 7,6% có số lượng
bạch cầu trung tính < 500 tế bào/mm².
Tình trạng này hồi phục hoàn toàn vào ngày 22.
Giảm bạch cầu do sốt được báo cáo ở 6,2% bệnh nhân và 1,7% chu kỳ.
Nhiễm trùng xảy ra ở khoảng 10,3% bệnh nhân (2,5% chu kỳ) và có liên quan đến giảm
bạch cầu trung tính nghiêm trọng ở khoảng 5,3% bệnh nhân (1,1% chu kỳ) và dẫn đến từ
vong ở 2 trường hợp.
Thiếu máu được báo cáo ở khoảng 58,7% bệnh nhân (8% với huyết sắc tố < 8 g/dL và
0,9% với huyết sắc tố < 6,5 g/dL).
Giảm tiểu cầu (< 100.000 tế bào/mm³) được quan sát thấy ở 7,4% bệnh nhân và 1,8% chu
kỳ với 0,9% có số lượng tiểu cầu ≤ 50.000 tế bào/mm³ và 0,2% chu kỳ.
Gần như tất cả các bệnh nhân đều hồi phục vào ngày 22.
Hội chứng cholinergic cấp tính thoáng qua nghiêm trọng được quan sát thấy ở 9% bệnh
nhân được điều trị bằng đơn trị liệu.
Suy nhược nghiêm trọng ở dưới 10% bệnh nhân được điều trị bằng đơn trị liệu. Chưa xác
định rõ ràng mối quan hệ nhân quả với irinotecan.
Sốt trong trường hợp không bị nhiễm trùng và không kèm theo giảm bạch cầu trung tính
nặng, xảy ra ở 12% bệnh nhân được điều trị bằng đơn trị liệu.
Các xét nghiệm: Sự gia tăng thoáng qua và nhẹ đến vừa nồng độ trong huyết thanh của
transaminase, phosphatase kiềm hoặc bilirubin được quan sát thấy tương ứng ở 9,2%, 8,1% và 1,8% bệnh nhân trong trường hợp không có di căn gan tiến triển.
Sự gia tăng thoáng qua và nhẹ đến vừa nồng độ creatinin trong huyết thanh đã được quan
sát thấy ở 7,3% bệnh nhân.
Liệu pháp phối hợp:
Các tác dụng không mong muốn được trình bày chi tiết trong phần này là của irinotecan.
Không có bằng chứng cho thấy tính an toàn của irinotecan bị ảnh hưởng bởi cetuximab
hoặc ngược lại. Khi kết hợp với cetuximab, các tác dụng không mong muốn bổ sung được
báo cáo là những phản ứng có thể xảy ra với cetuximab (như viêm da dạng mụn 88%). Để
biết thông tin về các tác dụng không mong muốn khi phối hợp irinotecan với cetuximab,
tham khảo hướng dẫn sử dụng tương ứng của các thuốc này.
Các tác dụng không mong muốn của thuốc được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng
capecitabine kết hợp với irinotecan ngoài những phản ứng gặp phải khi điều trị bằng
capecitabine đơn trị liệu hoặc gặp ở nhóm có tần suất cao hơn so với điều trị bằng
capecitabine đơn trị liệu bao gồm:ờng gặp, tác dụng không mong muốn ở tất cả các mức độ: huyết khối tắc mạch;
Thường gặp, tác dụng không mong muốn ở tất cả các mức độ: quá mẫn, thiếu máu cơ
nho máu cơ tim:
ờng, tác dụng không mong muốn ở mức độ 3 và 4: giảm bạch cầu trung tính có
thông tin đầy đủ về các tác dụng không mong muốn của capecitabine, tham khảo
hướng dẫn sử dụng của capecitabine.
Các tác dụng không mong muốn ở mức độ 3 và 4 được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị
bằng capecitabine kết hợp với irinotecan và bevacizumab ngoài những phản ứng đã thấy
với đơn trị liệu bằng capecitabine hoặc gặp ở nhóm có tần suất cao hơn so với đơn trị liệu
bằng capecitabine bao gồm: Thường gặp, tác dụng không mong muốn ở mức độ 3 và 4:
giảm bạch cầu trung tính, huyết khối tắc mạch, tăng huyết áp và thiếu máu cục bộ nhồi
máu cơ tim. Để biết thông tin đầy đủ về các tác dụng không mong muốn của capecitabine
và bevacizumab, tham khảo hướng dẫn sử dụng của capecitabine và bevacizumab.
Tăng huyết áp độ 3 là nguy cơ đáng kể chủ yếu liên quan đến việc thêm bevacizumab vào
liều bolus irinotecan/5-FU/FA. Ngoài ra, có một sự gia tăng nhẹ các tác dụng không mong
muốn do hóa trị liệu mức độ 3/4 là tiêu chảy và giảm bạch cầu ở phác đồ này so với những
bệnh nhân chỉ dùng liều bolus irinotecan/5-FU/FA. Để biết thông tin khác về các tác dụng
không mong muốn khi phối hợp với bevacizumab, hãy tham khảo hướng dẫn sử dụng của
bevacizumab.
Irinotecan đã được nghiên cứu phối hợp với 5-FU và FA trong điều trị ung thư đại trực
tràng di căn.
Dữ liệu an toàn về các tác dụng không mong muốn từ những nghiên cứu lâm sàng cho thấy
các tác dụng không mong muốn độ 3 hoặc 4 theo NCI có thể hoặc có khả năng liên quan
đến rối loạn máu và hệ bạch huyết, rối loạn tiêu hóa, rối loạn da và mô dưới da.
Các tác dụng không mong muốn sau đây được xem là có thể hoặc có khả năng liên quan
đến sử dụng irinotecan đã được báo cáo từ 145 bệnh nhân được điều trị bằng irinotecan
trong liệu pháp phối hợp với 5FU/FA theo liệu trình 2 tuần một lần với liều khuyến cáo là
180 mg/m².
Các tác dụng không mong muốn được báo cáo với irinotecan trong liệu pháp phối hợp (180mg/m² hai tuần một lần)
Rất thường gặp 
Máu và hệ bạch huyết: Giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm cảm giác thèm ăn.
Hệ thần kinh: Hội chứng cholinergic.
Tiêu hóa: Tiêu chảy, nôn, buồn nôn.
Da và mô dưới da: Rụng tóc (có thể hồi phục).
Toàn thân và tại chỗ: Viêm niêm mạc, suy nhược.
Xét nghiệm: Tăng transaminase (ALT, AST), tăng bilirubin máu, tăng phosphatase kiềm.
Thường gặp
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng: Nhiễm trùng.
Máu và hệ bạch huyết: Giảm bạch cầu trung tính có sốt.
Tiêu hóa: Đau bụng, táo bón.
Toàn thân và tại chỗ: Sốt.

Quy cách "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

Đóng gói: Hộp 1 lọ 40 mg/2 ml. Hộp 1 lọ 100 mg/5 ml. Hộp 1 lọ 300 mg/15 ml. Hộp 1 lọ 500 mg/25 ml.

Tuổi Thọ Thuốc: 24 tháng từ ngày sx

Cần bảo quản Thuốc Bisoplus HCT 5mg/12.5mg ở nơi khô ráo,thoáng mát, sạch sẽ, tránh nơi có ánh nắng chiếu trực trực tiếp hoặc nhiệt độ  quá 30 độ C để không ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của thuốc.Để xa tầm với của trẻ nhỏ.

Nhà sản xuất "Rinocan Điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng"

Đơn vị sản xuất và thương mại : Công ty TNHH Sinh dược phẩm Hera

Đơn vị phân phối : Công Ty TNHH Dược Phẩm DonaPharm 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

****Lưu ý****:

Các thông tin về thuốc trên Donapharm.vn chỉ mang tính chất tham khảo dựa trên tài liệu nhà sx cung cấp – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ.

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên

Sản phẩm cùng loại
0886396668 02518616036 0968396668
Zalo
0886396668 0968396668 02518616036